Thuốc ngủ giá rẻ

Thuốc ngủ giá rẻ. Nhà thuốc An Tâm luôn sẵn sàng tư vấn cho bạn tất cả những thông tin có liên quan đến những sản phẩm thuốc mê – thuốc ngủ trên thị trường hiện nay.

Ngủ là 1 trạng thái thông thường, tái diễn cũng như đảo ngược dễ dàng, được đặc trưng bởi sự yên lặng tương đối cũng như sự gia tăng đáng nói của ngưỡng đáp ứng với các gây nghiện bên ngoài so với lúc thức.

Rối loạn giấc ngủ thường là 1 triệu chứng sớm của bệnh tâm thần. Một vài rối loạn tâm thần có hệ quả tới sự thay đổi sinh lý giấc ngủ.


Những mức độ của giấc ngủ:


Giai đoạn khởi đầu tiên của giấc ngủ là thời gian đi vào giấc ngủ được biết đến như ngưỡng ngủ (threshold) xuất hiện trong vài giây. Trong 1 thí nghiệm, người được bắt đầu thí nghiệm đang cố gắng để ngủ trong lúc 2 mắt mở để họ có thể nhận ra được ánh sáng và chớp sáng chiếu vào trong giây lát hoặc chừng một lúc.

Họ được khuyến cáo để ấn vào 1 cái nút điện bất cứ lúc nào họ nhận thấy chớp loé sáng. Kết quả cho thấy, mỗi đối tượng nghiên cứu đều đã ấn nút liên tục đều đặn, cho tới lúc đột nhiên đáp ứng hoàn toàn dừng lại.

Khi đấy bạn đã bước qua 1 trạng thái ngủ, nhận thức của bạn về thế giới bên ngoại trừ sẽ mất đi trong vài giây.

Giai đoạn này được đặc trưng bởi nhịp alpha đều đặn cũng như ổn định. Bắt đầu sau đấy, độ căng cơ suy yếu, những khả năng thuyên giảm.

Sau đấy là giai đoạn NREM (Non Rapid Eye Movement) gồm 4 cấp độ, cấp độ sau sâu hơn giai đoạn trước. Gần như những khả năng sinh lý đáng kể đều thấp hơn so với lúc thức .


Cấp độ 1:

Từ khi kéo dài cho tới lúc kết thúc kéo dài khoảng10 phút. Nhịp thở trở bắt buộc chậm, nhịp tim đều, áp huyết suy yếu, nhiệt độ não thuyên giảm, dòng máu tới não giảm…

Sóng điện não chậm, biên độ nhỏ cũng như ít đều đặn hơn 1 chút. Người ngủ dễ bị tỉnh và có khả năng không ngủ lại được.

Giai đoạn 2: Kéo dài khoảng 20 phút. Tỉ lệ ngủ có khả năng ý thức 1 phương pháp lơ mơ, một vài ý muốn nghĩ rời rạc trôi nổi trong đầu tiên nhưng chẳng thể thể hiện bất cứ vật gì ngay cả khi mắt còn mở. Các chức năng thân thể giảm dẫn.

Sóng điện não có biên độ nghiêm trọng hơn, và lâu lâu có sự bùng phát của những sóng nhanh. Người ngủ vẫn có khả năng mắc tỉnh giấc bởi những âm thanh.

Giai đoạn 3: số người ngủ cực kỳ tương đối khó tỉnh, buộc phải có âm thanh nhiều hoặc lay thì mới tỉnh. Sóng điện não chậm 1 nhịp trên 1 giây, biên độ to lớn (sóng delta). Cấp độ này tiến hành ngủ sâu, xuất hiện sau 30 – 40 phút tính từ lúc bạn lơ mơ ngủ.

Cấp độ 4: cấp độ ngủ sâu nhất. Sóng não đồ là sóng delta, biên độ nặng, tần suất chậm, có sóng nhọn.

Tại thời điểm này người bệnh trãi qua tiến trình quên lãng. Trường hợp số người ngủ đi bộ hoặc tiểu dầm thì sẽ diễn ra trong giai đoạn này.

Giai đoạn 3 và 4 là giai đoạn ngủ sâu nhất của giấc ngủ. Khi bị đánh thức ở cấp độ này tỉ lệ ngủ sẽ bị mất phương hướng cũng như các lo âu mắc tan rã.

Sau lúc pha ngủ sâu kết thúc, số người ngủ quay lại giai đoạn 2 và rồi đi vào trạng thái REM (Rapid eye movement). Trong giai đoạn này cằm thả lỏng, nhưng mặt cũng như những ngón tay, ngón chân lại xoắn vặn.

Cánh mày râu có thể cương cứng cậu nhỏ, nữ giới có khả năng mắc cương tụ máu âm vật. Thế nhưng, những cơ khá lớn hoàn toàn bị liệt, cũng như chừng như không thể cử động được thân mình, chân và tay. Sóng điện não nhỏ cũng như không đều đặn với hàng loạt những đời sống của mắt.

Trong khá nhiều tình trạng sóng não đồ giống như khi thức. Những hoạt động thân thể tăng lên 1 cách đáng kể: áp huyết dao động thế nhưng có thể tăng đáng đề cập, mạch tăng không đều, và số người ngủ nên đối mặt với những vấn đề về tim mạch cũng như có khả năng cao của cơn đau thắt ngực.

Thở không đều và tăng mức tiêu thụ oxy.

Số người ngủ luân phiên giữa giấc ngủ REM và NREM 4 –6 lần trong một đêm với mỗi chu kỳ kéo dài trung bình khoảng 90 phút cũng như dao động trong khoảng 70 – 110 phút .

Thế nhưng giấc ngủ sâu chỉ chiếm ưu thế trong 2 chu kỳ ngủ ban đầu và nó ít xuất hiện lại trong đêm. Vậy nên sau 2 chu kỳ ngủ đầu, bạn có khả năng không ngủ sâu lại được nữa, mà phần to lớn thời gian chỉ là giấc ngủ REM.

Những kiểu ngủ thì thay đổi trong suốt đời tỉ lệ. Tại thời kỳ sơ sinh, giấc ngủ REM hiện diện hơn 50% tổng thời gian ngủ cũng như điện não chuyển trực tiếp từ mức độ thức tới giai đoạn REM mà không qua những giai doạn từ 1 đến 4 của giấc ngủ NREM.

Trẻ mới sinh ngủ 16 giờ 1 ngày xen lẫn với các mức độ thức rất ngắn. Đến 4 tháng tuổi giấc ngủ REM còn thấp hơn 40% cũng như đi vào giai đoạn đầu của giấc ngủ NREM.

Ở tỉ lệ trưởng thành sự phân bố các mức độ giấc ngủ như sau:


NREM (75%)
Giai đoạn 1: 5%
Cấp độ 2: 45%
Mức độ 3: 12%
Mức độ 4: 13%
REM (25%)

B. RỐI LOẠN GIẤC NGỦ:


Có những tỉ lệ ngủ nhiều nên 9 – 10 giờ trong 1 đêm cũng như những người khác thì ngủ ít hơn, nhưng độ dài của giấc ngủ không luôn luôn tương quan với rối loạn giấc ngủ.

Tuy nhiên trong 1 nghiên cứu năm 2002 trên một triệu người cho rằng các người ngủ nhiều hơn 8,5 giờ hay các số người ngủ ít hơn 3,5 giờ / đêm thì khả năng tử vong là 15% cao hơn so với các tỉ lệ ngủ 7 giờ/ đêm. Những tỉ lệ ngủ ít có thể có những bệnh phối hợp.

Chưa có nguyên cớ nào giải thích về vấn đề này. Bốn triệu chứng chính đặc trưng nhất của những rối loạn giấc ngủ là: chứng mất ngủ, ngủ rất nhiều, các rối loạn liên quan đến giấc ngủ cũng như rối loạn nhịp thức ngủ … những dấu hiệu này thường gối lên nhau.

I. Những triệu chứng CHỦ YẾU:

Một. Chứng mất ngủ : (Insomnia)
Chứng mất ngủ là sự tương đối khó đi vào giấc ngủ hoặc rất khó duy trì giấc ngủ, nó có thể ngắn hay kéo dài. 1 khảo sát trong 1 năm thấy tỉ lệ lưu hành từ 30 – 45% ở số người vô cùng lớn. Những nguyên nhân thường bị phải là: (Theo bảng sau).

Biểu hiện Mất ngủ sau căn bệnh nội khoa Mất ngủ sau bệnh lý tâm thần hay thay đổi môi trường


Khó khăn đi vào giấc ngủ – hiện tượng đau đớn hay lo âu
– vết thương hệ thần kinh TW

– lo âu, stress.
– Thay đổi môi trường.

– RL nhịp thức ngủ.

Trở ngại duy trì giấc ngủ – HC ngưng thở lúc ngủ
– HC rung giật cơ và HC đôi chân không nghỉ.

– chế độ ăn uống (chắc chắn).

– Anh hưởng trực tiếp các chất bao gồm rượu.

– Anh hưởng trực tiếp những chất không bao gồm rượu.

– ảnh hưởng thông qua lại của những chất.

– căn bệnh nội tiết và chuyển hoá.

– bệnh nhiễm trùng, bệnh tạo keo và các bệnh lý khác.

– trường hợp đau đớn hay lo lắng

– các sang thương hay những căn bệnh ở thân não cũng như vùng dưới đồi

– Tuổi già

– Trầm cảm.
– Thay đổi môi trường.

– RL nhịp thức ngủ.

– Rối loạn căng thẳng sau sang chấn.

– Tâm thần phân liệt


Một giai đoạn ngắn của chứng mất ngủ thường hậu quả với lo lắng như thi cử hoặc phỏng vấn việc làm, sự thất bại, sự mất mát, thay đổi cuộc sống, stress… giai đoạn này thường không nặng mặc dù các cấp độ loạn thần hay trầm cảm khá lớn đôi lúc khởi đầu bằng mất ngủ cấp.

Trị liệu đặc hiệu trong giai đoạn này thường không buộc phải thiết. Lúc trị với thuốc ngủ được hướng dẫn thì chỉ chữa trong giai đoạn ngắn và nó thường tái phát lúc ngưng thuốc.

Chứng mất ngủ dai dẳng là một nhóm bệnh lý thường bị than phiền là rất khó đi vào giấc ngủ hơn là khó duy trì giấc ngủ.

Các người bệnh này thường không có sự than phiền gì khác không tính sự mất ngủ.

Họ có thể không trãi nghiệm lo âu nhưng nó sẽ được thể hiện ra ngoài bằng những triệu chứng sinh học. Họ có thể than phiền cơ bản về những cảm giác mặc cảm cũng như sự nghiền ngẫm, các điều ấy đã giảm thiểu họ rơi vào giấc ngủ.

Lâu lâu (nhưng không thường xuyên) người bệnh diễn tả có một sự gia tăng căn bệnh vào những lúc căng thẳng ở công sở hoặc tại nhà cũng như sự suy giảm của căn bệnh trong các kỳ nghỉ.

2. Chứng ngủ nhiều: (Hypersomnia)


Ngủ rất nhiều triệu chứng như là tăng quá mức thời gian ngủ hay tăng thời kỳ buồn ngủ (Somnolence) hoặc cả hai. Thuật ngữ Somnolence nên dùng ở bệnh nhân than phiền về sự buồn ngủ (tình trạng mơ màng) và có 1 xu hướng chứng minh cụ thể là bất thình lình rơi vào giấc ngủ trong lúc thức (không thể duy trì được sự thức). Những lời than phiền ngủ khá nhiều thường ít hơn (5% tại người lớn) so với chứng mất ngủ.

Những nguyên nhân thường gặp của ngủ nhiều

Biểu hiện bệnh lý nội khoa bệnh tâm thần cũng như môi trường
Sự gia tăng ngủ (hypersomnia) – HC Kleine –Levin.
– Ngủ khá nhiều liên quan với kinh nguyệt.

– bệnh lý chuyển hóa cũng như nhiễm độc.

– Trầm cảm
Tăng buồn ngủ ban ngày – Viêm não.
– Rượu cũng như thuốc suy giảm đau.

– Cai nghiện chất gây nghiện.

– Hội chứng ngủ rũ cũng như giống ngủ rũ.

– Ngưng thở khi ngủ.

– Hội chứng suy giảm thông khí.

– bệnh tăng năng tuyến giáp, chuyển hoá và nhiễm độc.

– Cai nghiện chất kích thích.

– Thiếu ngủ hoặc ngủ không gần như.

– Trầm cảm
– Rối loạn nhịp thức ngủ


Những rối loạn xãy ra trong giấc ngủ: ( Parasomnia)


Các rối loạn biến chứng tới giấc ngủ là các hiện tượng bất ổn xãy ra bất chợt trong lúc ngủ hoặc nó xãy ra ở giữa ngưỡng thức cũng như ngủ.

Parasomnia thường xãy ra ở mức độ 3 cũng như 4, do vậy số người bị bị chứng này thường rất khó nhớ được các rối loạn mà họ mắc phải.


4. Rối loạn nhịp thức ngủ :(Sleep-Wake Schedule Disturbance)


Rối loạn nhịp thức ngủ có thúc đẩy với sự thay đổi chỗ ngủ. Những bệnh nhân thường chẳng thể ngủ khi họ muốn ngủ, mặc dù họ có khả năng ngủ tại những khoảng thời kỳ khác. Do đấy họ không thể thức hoàn toàn khi họ muốn, nhưng họ có thể thức trong các khoảng thời gian khác.

Các rối loạn này không gây chứng mất ngủ hoặc ngủ khá nhiều mặc dù lời phàn nàn ban đầu thường là sự mất ngủ hoặc ngủ nhiều.

Rối loạn nhịp thức ngủ có khả năng coi như là sự sai lệch những cuộc sống giữa thức cũng như ngủ.

DSM-IV-TR phân rối loạn giấc ngủ dựa trên cơ sở tiêu chuẩn chẩn đoán lâm sàng và căn do. Gồm 3 loại: rối loạn giấc ngủ biến chứng với rối loạn tâm thần, rối loạn giấc ngủ khác (do bệnh lý nội khoa và sử dụng chất) cũng như rối loạn giấc ngủ nguyên phát.

Trong bài này bác sĩ chỉ đề cập tới rối loạn giấc ngủ nguyên phát.

II. RỐI LOẠN GIẤC NGỦ NGUYÊN PHÁT


DSM-IV-TR định nghĩa rối loạn giấc ngủ nguyên phát là rối loạn giấc ngủ tuyệt đối không hình thành bởi một rối loạn tâm thần khác, một bệnh nội khoa hoặc sử dụng chất.

Có 2 rối loạn giấc ngủ nguyên phát chính là chứng khó ngủ (dyssomnias) và các rối loạn xãy ra trong giấc ngủ.

Chứng tương đối khó ngủ bao gồm: Chứng mất ngủ nguyên phát, ngủ rất nhiều nguyên phát, ngủ rủ, rối loạn giấc ngủ có tương tác với sự hô hấp, rối loạn nhịp thức ngủ, và các rối loạn giấc ngủ không đặc hiệu khác.


Những rối loạn có thúc đẩy với giấc ngủ bao gồm: Ac mộng (giấc mơ kinh hoàng), khiếp sợ trong đêm, miên hành (đi trong giấc ngủ) cũng như các rối loạn không đặc hiệu khác.

1. Chứng khó ngủ:


Một.1 Chứng mất ngủ nguyên phát:


Điều than phiền cốt yếu là rất khó đi vào giấc ngủ hoặc khó duy trì giấc ngủ hoặc giấc ngủ không hồi phục trong thời kỳ ít nhất một tháng.

Những bệnh nhân mắc chứng khó ngủ nguyên phát thường bận tâm là làm sao để có giấc ngủ đủ. Họ cố gắng ngủ rất nhiều hơn thế nhưng thường bị tương đối khó ngủ rất nhiều hơn (những cảm giác về sự thất bại, sự đau buồn, cũng như sự lãng tránh của giấc ngủ càng nhiều hơn).

Điều trị:


Điều trị chứng mất ngủ nguyên phát là những vấn đề trở ngại nhất của các rối loạn giấc ngủ . Lúc thành phần có thời cơ là nổi bật thì 1 kỹ thuật làm cho mất thời cơ có khả năng là hữu ích.

Những bệnh nhân sẽ được hỏi về khoảng thời kỳ họ lên giường tới khi không ngủ được. Trường hợp họ không ngủ sau 5 phút nằm trên giường, họ sẽ được chỉ định đứng dậy và khiến 1 điều gì đấy.

Đôi khi, sự thay đổi giường và phòng khác là hữu ích. Lúc sự căng thẳng cơ thể cũng như căng cơ là nổi bật thì sự thư giãn là có lợi.

Tâm lý điều trị liệu không buộc phải là cực kỳ có lợi trong trường hợp này. Sự thoã mãn về phòng the sẽ đẩy mạnh giấc ngủ tại quý ông nhiều hơn nữ.

Chứng mất ngủ nguyên phát thường được điều trị với Benzodiazepin, Zolpidem, Zalepton (Sonata) cũng như các thuốc ngủ khác.

Các thuốc ngủ phải được sử dụng thận trọng. Các thuốc ngủ tác dụng kéo dài như Flurazepam (Dalmane), Quazepam (Doral) là tốt nhất cho chứng mất ngủ giữa đêm.

Những thuốc tác dụng quá ngắn như Zolpidem, Triazolam (Halcion) có ích ở các số người tương đối khó đi vào giấc ngủ.

Nhìn chung, các thuốc ngủ không nên kê đơn quá 2 tuần bởi vì sự cai thuốc cũng như sự dung nạp có khả năng xãy ra.

Một vài sự bổ sung về chế độ ăn kiêng được sử dụng cho chứng mất ngủ gồm Melatonin và L- tryptophan. Melatonin là 1 hormone nội sinh được sản sinh bởi tuyến tùng và nó có liên hệ với sự điều hoà giấc ngủ.

Tiền chất của Serotonin là L- Tryptophan được sử dụng trước đây với kết quả tương đương. Nhưng trong nghiên cứu lâm sàng việc dùng Melatonin ngoại sinh đưa đến kết quả lẫn lộn.

Nhiều phương pháp không đặc hiệu khác – Cái gọi là vệ sinh giấc ngủ, có thể hỗ trợ cải thiện được giấc ngủ. Phương án ánh sáng cũng được dùng.

Một.2. Chứng ngủ nhiều nguyên phát:


Ngủ nhiều nguyên phát được chẩn đoán khi không phải các căn do khác làm cho tăng ngủ cũng như kéo dài ít nhất một tháng. Người ngủ khá nhiều cũng giống như người ngủ ít cho rằng có một sự thay đổi thông thường. Giấc ngủ của họ là bình thường về mặt cấu trúc và sinh lý mặc dù nó kéo dài.

Các số người này không phải sự than phiền về chất lượng giấc ngủ, sự buồn ngủ ban ngày hay những khó khăn đánh thức.

Giấc ngủ kéo dài có thể là suốt đời và có tính chất gia đình. Rất nhiều tỉ lệ có giấc ngủ biến đổi cũng như có thể trở thành các người ngủ nhiều trong các khoảng thời kỳ nào ấy trong cuộc đời họ.

Điều trị:


Chủ yếu là dùng thuốc gây nghiện như Amphetamin cho vào buổi sáng hay tối. Các thuốc chống trầm cảm không an dịu có khả năng có thể có giá chữa ởmột số người bệnh

Một.3. Ngủ rũ: (Narcolepsy)


Ngủ rũ bao gồm sự tăng quá mức sự buồn ngủ ban ngày và dấu hiệu khác thường của giấc ngủ REM xãy ra hàng ngày ít nhất trong 3 tháng. Chính yếu của ngủ rũ là xãy ra 2 đến 6 lần trong 1 ngày và kéo dài từ 10 – 20 phút.

Nó có thể xãy ra ở các thời điểm không thích hợp như đang ăn, đang nói chuyện, khi lái xe hoặc khi quan hệ tình dục. Giấc ngủ REM này bao gồm các ảo giác dỡ thức dỡ ngủ, chứng liệt lúc ngủ. Ngủ rũ có khả năng nguy hiểm bởi vì nó có khả năng dẫn tới các tai nạn công nghiệp cũng như tai nạn giao thông.

Khoảng 0,02 tới 0,16% tỉ lệ trưởng thành có lý do gia đình. Ngủ rũ không bắt buộc là 1 dạng của động kinh hoặc rối loạn tâm lý.

Nó là 1 sự bất ổn của cơ chế giấc ngủ , đặc biệt cơ chế ức chế giấc ngủ REM và nó đã được nghiên cứu tại chó, cừu cũng như người.

Ngủ rũ có thể xãy ra tại mọi lứa tuổi thế nhưng thường mắc phải nhất bắt đầu tại tuổi thanh thiếu niên cũng như người trưởng thành trẻ, thường trước 30 tuổi. Rối loạn này hoặc tiến triển chậm hoặc sẽ bình ổn trong suốt cuộc đời.

Triệu chứng thường mắc phải nhất là sự cơn ngủ (Sleep attacks). Bệnh nhân không thể giảm thiểu rơi vào giấc ngủ.

Nó thường có tương tác với vấn đề tê liệt tạm thời (xãy ra tại 50% trường hợp), sự mất trương lực cơ đột ngột như trễ quai hàm, gục đầu, yếu đầu gối hay liệt của hệ cơ xương .

Những bệnh nhân này thường vẫn thức trong giai đoạn liệt cấp và trong các mức độ dài nó thường hoà vào giấc ngủ cũng như các triệu chứng trên EEG là của giấc ngủ REM.

Những triệu chứng khác bao gồm các ảo giác giở thức giở ngủ: trãi nghiệm cảm giác sặc sỡ, thính giác hay thị giác xãy ra lúc khởi ban đầu giấc ngủ hoặc khi thức giấc. Người bệnh thường hoảng sợ trong giây lát nhưng chỉ trong một – 2 phút họ sẽ trở lại trạng thái bình thường hoàn toàn.

Biểu hiện bất ổn khác là liệt ngủ, nó thường xãy ra khi thức giấc vào buổi sáng. Người bệnh thức cũng như biết rõ ràng tuy nhiên chẳng thể cử động được cơ.

Ví như dấu hiệu kéo dài hơn 1 vài giây nó có thể trở nên bất lợi khá nhiều. Bệnh nhân ngủ rũ rơi vào giấc ngủ nhanh vào ban đêm tuy nhiên giấc ngủ thường mắc ngắt quảng.

Lúc chẩn đoán lâm sàng không rõ ràng thì việc ghi polysomnographic trong đêm phát hiện ra đặc điểm giai đoạn REM đầu tiên giấc ngủ.

Một thí nghiệm về thời gian ngủ khá nhiều ban ngày (ghi nhận những giấc ngủ trong 2 giờ) cho rằng khởi ban đầu giấc ngủ nhanh và luôn thấy 1 hoặc hơn các giai đoạn REM khởi ban đầu giấc ngủ. Một dạng kháng nguyên bạch cầu số người là HLA- DR2 được tìm thấy tại 90 – 100% bệnh nhân ngủ rũ cũng như chỉ 10 – 35% người không mắc ảnh hưởng.

Một nghiên cứu mới đây cho rằng rằng các người bệnh ngủ rũ mắc thiếu chất dẫn truyền thần kinh hypocretin, chất này kích thích sự thèm ăn và sự thức tỉnh. Nghiên cứu khác cho rằng rằng số neuron hypocretin (Hrct cells) trong ngủ rũ là 85- 95% thấp hơn tại những bộ não không ngủ rũ.

Điều trị:


Không phải sự chữa trị chứng ngủ rũ, thế nhưng sự quản lý dấu hiệu là có khả năng. 1 chế độ ngủ ngắn vào ban ngày bắt buộc Đôi khi hỗ trợ các người bệnh ngủ rũ, cũng như ta không sử dụng thuốc ở đầy đủ các trường hợp.

Khi việc sử dụng thuốc được quy định thì các thuốc kích thích được sử dụng thường nhất.

Modafinil (Provigil), một đối vận thụ thể adrenergic a1, đã đươc FDA chấp thuận làm giảm số lượng cơn ngủ cũng như cải thiện sự vận động tâm thần trong ngủ rũ. Sự theo dõi cho rằng có sự ảnh hưởng của cơ chế Noradrenalin trong rối loạn này.

Modafinil không phải một vài tác dụng có hại như các thuốc kích thích tâm thần cổ điển.

Thế nhưng thầy thuốc nên giám sát việc sử dụng nó. Các bác sĩ về giấc ngủ thường kê thuốc 3 vòng và SSRI để khiến suy giảm liệt cấp thời. Họ đã lợi dụng thuộc tính ngăn chặn giấc ngủ REM của các thuốc này.

Rất nhiều thông báo cho rằng Imipramin (Topramin), Modafinil cũng như Fluoxetin có tác dụng hoàn toàn trong việc loại trừ và thuyên giảm liệt..

Mặc dù việc dùng thuốc là điều trị liệu lựa chọn tuy nhiên hầu hết biện pháp bắt buộc bao gồm ngủ theo thời gian biểu, điều chỉnh đời sống, khuyến cáo tâm lý, theo dõi cẩn thận sự dự trữ thuốc, sức khoẻ chung cũng như tình trạng tim mạch.

Một.4. Rối loạn giấc ngủ có tác hại với hô hấp


Rối loạn giấc ngủ có hệ quả với hô hấp được đặc trưng bởi sự đứt quảng của giấc ngủ dẫn tới tăng hoặc mất ngủ quá mức do rối loạn hô hấp hệ quả với giấc ngủ . Những rối loạn hô hấp có khả năng xãy ra trong giấc ngủ gồm: Ngưng thở, giảm thở cũng như mất độ bão hoà oxy. Những rối loạn này luôn gây ngủ nhiều.

Hai rối loạn của hệ thống hô hấp có khả năng dẫn đến ngủ rất nhiều là ngưng thở khi ngủ và thuyên giảm thông khí phế nang trung tâm. Cả 2 rối loạn này cũng có khả năng gây mất ngủ nhưng ít hơn gây ngủ rất nhiều.

1.4.1 Hội chứng ngưng thở lúc ngủ do tắc nghẽn:


Ngưng thở lúc ngủ là sự ngừng thông khí ở mũi cũng như miệng. 1 cấp độ ngưng thở thường kéo dài 10 giây hay hơn. Ngưng thở khi ngủ có khá nhiều dạng :

– Ngưng thở lúc ngủ trung tâm: cả sự thông khí và nổ lực hô hấp ( bụng và ngực) ngừng đời sống cũng như bắt đầu trở lại trong lúc đánh thức.
– Ngưng thở lúc ngủ do tắc nghẽn: sự thông khí dừng lại thế nhưng nổ lực hô hấp gia tăng. Tại đây có một sự tắc nghẽn trên đường đưa khí cũng như có sự gia tăng các nổ lực của cơ bụng cũng như ngực để đẩy khí qua chỗ tắc nghẽn.


– Dạng hỗn hợp: hệ quả với những nguyên do của cả 2 dạng trên.

Ngưng thở khi ngủ thường được cho là bệnh lý ví như người bệnh có ít nhất 5 cơn trong 1 giờ hoặc 30 cơn trong 1 đêm. Trong nhiều hiện tượng ngưng thở lúc ngủ do tắc nghẽn nặng có thể có 300 cơn, theo sau mỗi cơn là một giai đoạn thức giấc.

Như vậy sẽ không phải giấc ngủ bình thường cho dù bệnh nhân vẫn tại trên giường cũng như khiến ra vẻ như họ đã ngủ trọn đêm.

Ngưng thở lúc ngủ có khả năng là môt trường hợp hiểm nguy. Nó được dùng để giải thích các cái chết không rõ yếu tố cũng như những cái chết trong nôi ở trẻ con. Nó cũng ghánh chịu nghĩa vụ cho rất nhiều cái chết vì phổi và tim mạch tại tỉ lệ nặng và tỉ lệ già.

Trong mỗi giai đoạn ngưng thở lúc ngủ có những thay đổi về tim mạch như loạn nhịp và thay đổi căng thẳng máu nhất thời.

Ngưng thở lúc ngủ có tương tác với sự tăng áp lực máu phổi cũng như có thể gia tăng stress máu hệ thống. Những thay đổi tim mạch này có khả năng giải thích một số đáng kể những tình trạng được chẩn đoán là tăng huyết áp trầm trọng.

Khả năng lưu hành của ngưng thở lúc ngủ trong dân số chung chưa được biết thế nhưng tỉ lệ ta thấy có sự gia tăng về số lượng.

Trong 1 khảo sát về các người bệnh buồn ngủ ban ngày có rối loạn trầm trọng đủ để khảo sát hình ảnh học ở 1 trung tâm rối loạn giấc ngủ thấy có 42% có sự đau khổ vì 1 trong những thay đổi của chứng ngưng thở lúc ngủ .

1 chẩn đoán thăm dò chứng ngưng thở lúc ngủ có thể được sử dụng lúc không có sự đo hình ảnh học.

Hình ảnh đặc trưng nhất tại tỉ lệ trung niên và số người già là sự stress cũng như không thể thức vào ban ngày, đôi khi có ảnh hưởng với trầm cảm, những thay đổi khí sắc và những cơn buồn ngủ ban ngày. Họ có thể có hay không có các than phiền về các bất thường trong lúc ngủ.

Những bạn tình (chồng) hoặc người ngủ chung cho ta một căn bệnh sử gồm sự ngáy lớn và tác động theo cùng với thở hổn hển, nguời bệnh cố gắng thở nhưng không thể khiến cho được.

Khi ban đầu bệnh nhân không than phiền gì cả mặc dù các số người cùng ngủ cho thấy họ ngáy lớn và bồn chồn lúc ngủ. Các người bệnh béo phì bị rối loạn này gọi là hội chứng Pickickian.

Các bệnh nhân nghi ngơ mắc ngưng thở lúc ngủ cần tới phòng thí nghiệm. Họ đươc đo EEG, EMG, ECG cũng như theo dõi chức năng hô hấp suốt đêm.

Việc ghi nhận sự thông khí và khả năng hô hấp là luôn phải thiết cho chẩn đoán. Chẩn đoán xác định bằng việc đo độ bão hoà oxy trong đêm. Sự theo dõi ECG 24 giờ đôi lúc có ích.

Thở đường mũi căng thẳng dương liên tục (Nasal continuous positive airway presure: ncpap) là sự lựa chọn chữa cho chứng ngưng thở lúc ngủ do tắc nghẽn. Thuyên giảm cân, phẩu thuật mũi, khí quản là bắt buộc thiết.

SSRI cũng như thuốc chống trầm cảm khác vòng đôi khi giúp chữa trị ngưng thở lúc ngủ do làm thuyên giảm thời kỳ của giấc ngủ REM (giai đoạn này thường xãy ra các cơn ngưng thở khi ngủ rất nhiều nhất). Theophylin khiến giảm số cơn; tuy nhiên nó có khả năng hình thành trở ngại về chất lượng của giấc ngủ . Lúc chứng ngưng thở lúc ngủ được nghi ngờ thì bắt buộc tránh dùng thuốc an dịu, bao gồm rượu vì nó có thể làm trầm trọng thêm trường hợp bệnh lý và có khả năng chết.

Một.4.2. Suy giảm thông khí phế nang trung tâm:


Thuyên giảm thông khí phế nang trung tâm là các hiện tượng chi tiết là giảm thông khí do những bất ổn về hô hấp xuất hiện trong giấc ngủ và không phải các cấp độ ngưng thở quan trọng hiện diện.

Rối loạn khả năng phế nang được đặc trưng bởi sự không cân xứng của thể tích cũng như tốc độ hô hấp lúc ngủ. Chết có khả năng xãy ra khi ngủ. Chữa liệu bằng thông khí cơ học như thông khí mũi.

1.5. Rối loạn giấc ngủ hệ quả nhịp ngày đêm (rối loạn nhịp thức ngủ):


Rối loạn nhịp thức ngủ bao gồm các trường hợp tương tác với sự mất cân đối giữa sự ước muốn cũng như sự thật của các giai đoạn ngủ. DSM- IV-TR cho rằng có 4 dạng rối loạn: chậm vào giấc ngủ, mất ngủ do thay đổi múi giờ, rối loạn giấc ngủ do làm cho việc theo ca kíp, loại không đặc hiệu.

– Loại chậm đi vào giấc ngủ: là rối loạn giấc ngủ được biểu đạt bởi thời gian ngủ và thức chậm hơn ý. Điều than phiền chủ yếu của người bệnh thường là tương đối khó đi vào giấc ngủ ở những thời kỳ thường lệ và những rối loạn của họ giống như khởi đầu của chứng mất ngủ.

Có thể điều trị bằng biện pháp khiến cho chậm lại giờ ngủ từ từ trong khá nhiều ngày cho đến lúc có sự thèm khát ngủ. Quá trình thích ứng của pha ngủ này có thể được trợ hỗ trợ bởi những thuốc ngủ có thời kỳ bán huỷ rất ngắn như Trizolam. Kỹ thuật ánh sáng mỗi đêm cũng có ích.

– Loại mất ngủ do thay đổi múi giờ: phụ thuộc vào độ dài của chuyến du ngoạn và tuỳ từng cá nhân, nó sẽ mất đi tự động từ 2 – 7 ngày. Không phải chữa trị liệu đặc biệt. Một người dự phòng biểu hiện bằng sự thay đổi thời kỳ ăn và thời gian ngủ theo các chỉ dẫn thích hợp trước lúc đi du lịch. Melatonin đường uống có lợi cho nhiều tỉ lệ.

– Rối loạn giấc ngủ do khiến việc theo ca kíp:


Loại rối loạn này xãy ra ở các người thay đổi thời kỳ biểu làm cho việc của họ một kỹ thuật sớm, và Đôi khi tại những tỉ lệ tự đặt cho mình thời gian biểu giấc ngủ của mình lộn xộn.Triệu chứng thường mắc phải nhất là một cấp độ hỗn hợp của mất ngủ và buồn ngủ có kèm theo các biểu hiện khác cũng như những vấn đề cơ thể bao gồm loét dạ dày sau một thời kỳ.

Nhiều thanh niên cũng như số người trẻ thì thích ứng hữu hiệu, nhưng những số người già và số người nhạy cảm thì bị tác động chi tiết.

Những biểu hiện thường là xấu hơn ở những ngày sau lúc có sự thay đổi, nhưng một số người nhịp thức ngủ mắc ảnh hưởng trong một thời gian dài. Sự ép buộc giờ ngủ mới cũng như cách ánh sáng có thể hỗ trợ công nhân điều chỉnh lại thời kỳ biểu mới.

– Loại không đặc hiệu:


Bệnh nhân ngủ nhanh chóng, luân phiên thức – ngủ không giống nhau trong 24 giờ, luân phiên thức – ngủ không đều đặn hay do một kiểu thay đổi giấc ngủ không đặc hiệu.

Một.6. Khó ngủ không đặc hiệu:


Loại khó ngủ này dành cho mất ngủ, ngủ nhiều, rối loạn nhịp ngày đêm nhưng không đủ các tiêu chuẩn của bất cứ 1 loại rối loạn giấc ngủ đặc hiệu nào.

1.6.1. Rung giật cơ ban đêm:


Rung giật cơ ban đêm là các co rút đột ngột, rập khuôn của những cơ chân khi ngủ. Bệnh nhân không thể hiện điều đó. Khoảng 40% người to lớn hơn 65 tuoi bị chứng này.

Những cử động lập đi lập lại ở chân xãy ra từ 20 – 60 giây với sự duỗi những ngón chân to lớn cũng như sự gấp của cổ chân, thứ nhất gối cũng như hông. Không có trị nào là có kết quả trọn vẹn. Những chữa liệu có lợi bao gồm Benzodiazepin, Levodopa, Quinidin và hiếm hơn là thuốc phiện.

1.6.2. Hội chứng đôi chân không nghĩ:


Trong hội chứng này bệnh nhân có cảm giác kiến bò trong xương bất cứ lúc nào bệnh nhân ngồi hay nằm xuống.

Rối loạn cảm giác này thường không tạo nên đau tuy nhiên gây nên 1 sự thống khổ cực độ buộc người bệnh bắt buộc cử động đôi chân. Hội chứng này khiến cho bệnh nhân khó đi vào giấc ngủ cũng như dễ mắc đánh thức lúc ngủ.

Hội chứng này gặp tại 5% dân số cũng như hoặc gặp ở tuổi trung niên. Không phải điều trị chính thức cho rối loạn này.

Bệnh nhân sẽ được khuây khỏa lúc cử động chân cũng như xoa bóp chân. Khi thuốc được dùng thì Benzodiazepines, Levodopa, Quinidin, Opiods, Propranolol, Valproate, Carbamazepin là có lợi.

1.6.3. Hội chứng Klein – Levin:


Hiếm bị phải, bao gồm những cấp độ kéo dài giấc ngủ tái diễn xen vào với những mức độ thức và ngủ thông thường.

Trong những cấp độ thức cũng như ngủ rất nhiều người bệnh thường rút khỏi những hoạt động xã hội cũng như trở lại ngủ khi mắc phải thời cơ ban đầu.

Bệnh nhân có thể mô tả sự thờ ơ hay tức giận, xáo trộn, thèm ăn, mất ức chế chăn gối, hoang tưởng, ảo giác, mất tư thế đứng, suy giảm nhớ, đọc không mạch lạc, vui nhộn hoặc buồn bã, hung hăn… Thường thì không lý giải được những dấu hiệu này.

Hội chứng này hiếm gặp, khoảng 100 hiện tượng được thông báo. Toàn bộ những trường hợp là ngủ nhiều kéo dài từ 1 tới vài tuần và trãi nghiệm trên một năm. Không tính 1 số ít tình trạng, cơn đầu thường xãy ra giữa tuổi từ 10 – 21 .

Hiếm lúc bệnh khởi tại lứa tuổi từ 40 – 50. Đầy đủ hội chứng tự giới hạn và sự suy yếu kéo dài xãy ra tự động trước 40 tuổi trong các hiện tượng khởi phát sớm.

1.6.4. Hội chứng biến chứng với kinh nguyệt:


Một số phụ nữ ngủ rất nhiều ảnh hưởng, thay đổi hành vi, ăn rất nhiều trước kỳ kinh nguyệt. Những nguyên nhân về nội tiết có lẽ có tương tác tuy nhiên không có những bất ổn đặc hiệu khi đo. Người ta thấy có sự tăng Serotonin trong dịch não tuỷ tại một bệnh nhân.

Một.6.5. Rối loạn giấc ngủ trong thai kỳ:


Rối loạn giấc ngủ thường gặp tại phụ nữ có thai. Khá nhiều hóc môn góp phần vào rối loạn này bao gồm những thay đổi nồng độ estrogen, progesterone, cortisol và melatonin.

Thêm vào đó là sự thay đổi sinh lý hô hấp số người mẹ cũng như trong tam cá nguyệt thứ 3 của thai kỳ, sự cử động của thai nhi làm giảm số lượng cũng như chất lượng của giấc ngủ.

1.6.6. Giấc ngủ không đầy đủ:


Là sự than phiền mau chóng nhất của các người buồn ngủ ban ngày; Nó xãy ra ở các số người có sự ngủ không đầy đủ kéo dài. Chẩn đoán thường được tùy vào căn bệnh sử bao gồm nhật ký giấc ngủ .

1 số người là những sinh viên đặc biệt hoặc công nhân khiến theo ca kíp họ muốn duy trì 1 việc làm tích cực ban ngày cũng như làm cho thêm những việc làm ban đêm của họ do vậy họ tự hạn chế giấc ngủ sinh lý buộc phải họ buộc phải ngủ khá nhiều trong giờ thức.

1.6.7. Giấc ngủ của số người nghiện rượu:


Giấc ngủ của tỉ lệ nghiện rượu là một dạng thức bất thường mà ở đó thiếu các tri giác rõ ràng, dễ nhận thấy ở mức độ chuyển tiếp từ ngủ sang thức.

Bệnh nhân tăng trường hợp xáo trộn tạo ra những rắc rối cho bản thân và xã hội, đôi lúc có hành vi tội phạm. Căn bệnh có tính chất gia đình.

Chẩn đoán phải phải loại trừ những lý do ngăn chận giấc ngủ như ngưng thở, rung giật cơ ban đêm, ngủ rũ, sự gia tăng quá mức việc dùng rượu cũng như các chất khác.

2. Các rối loạn có tương tác đến giấc ngủ:


2.1. Ac mộng:


Ác mộng là những giấc mơ khiếp sợ cũng như kéo dài làm số người đấy nên thức. Giống như những giấc mơ khác gần như ác mộng xãy ra tại giấc ngủ REM và thường sau 1 giai đoạn REM dài muộn của đêm. 1 số người bị ác mộng suốt đời.

Những số người bất ổn bị khi bị sang chấn tâm lý hay mắc ốm. 50% người to lớn được thông báo Đôi khi mắc ác mộng.

Chữa đặc hiệu không cần lúc nào cũng là cần thiết. Các thuốc ngăn chận giấc ngủ REM như ba vòng có thể làm thuyên giảm ác mộng. Benzodiazepin cũng được dùng. A

LIÊN HỆ NGAY VỚI NHÀ THUỐC AN TÂM THEO HOTLINE: 0908. 726. 713